Mtcontempo

Trang chủ

Nghệ thuật pha trà của người Việt

Uống trà là một loại hình nghệ thuật gắn liền với đời sống, phong tục người Việt Nam bao đời qua. Cách thưởng thức trà cũng có nhiều hình thức nhưng phổ biến hơn cả là sử dụng trà khi tiếp khách, gia đình quây quần mỗi khi sum họp. Kèm với đó là rất nhiều cách pha trà khác nhau tùy từng loại trà, tùy từng mục đích. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu cách pha trà ngon của người Việt nhé !

1. Loại trà

Để có ấm trà ngon thì yếu tố chọn trà là không thể thiếu. Việt Nam với môi trường nhiệt đới là vùng đất của rất nhiều loại trà ngon, quý hiếm. Những vùng trà nổi tiếng như Thái Nguyên, Mộc Châu, Sơn La, Đà Lạt, Lâm Đồng,… với sự ưu đãi của thiên nhiên cùng tác động của con người đã tạo nên những nõn trà danh giá.

Đặc biệt trà tại Việt Nam có loại đắng, chát, thơm khác nhau. Trà móc câu ” 1 tôm, 2 lá, 1 cá 2 chừa ” thì hơi chát đầu lưỡi rồi ngọt dần, hương dịu tựa nếp non. Trà nõn tôm thì nồng nàn, đậm đà cực độ với màu vàng óng.

Ngoài ra, có nhiều loại trà với vị ngọt thơm mát thường để sử dụng hàng ngày bằng cách hãm với lá tươi. Những lá trà được ngắt khi còn sương sáng sớm, qua cách xử lý sử dụng cho cả ngày.

2. Ấm chén pha trà

Ấm trà là vật dụng quan trọng để có ấm trà ngon. Điểm quan trọng của ấm trà là phải giữ được nhiệt độ trong khoảng thời gian thưởng thức trà. Từ xa xưa, ông cha ta đã sử dụng cách loại ấm bằng đất nung, sành sứ để làm ấm trà vì độ giữ nhiệt tốt, các khoáng chất trong đất sau 1 thời gian sử dụng sẽ có tác động đến hương vị trà.

Nghệ thuật pha trà được đưa lên tầm cao mới với ấm trà. Nhiều quy định khắt khe được đưa ra để đánh giá 1 ấm trà tốt. Như mầu ấm trà ngon phải màu gan gà, gan trâu, chu sa,..hình dáng ấm phải giống quả na, quả thị, quả hồng,..Chén phải là chén mắt trâu, hạt mít hoặc men ngọc,..Cũng bởi lẽ đó mà Bát Tràng là cái nôi của nghệ thuật làm Ấm – tham khảo Giá ấm chén Bát Tràng

Ấm tích là vật dụng quen thuộc ở nhiều làng quê Việt Nam. 1 ấm tích to có thể hãm chè cho cả nhà sử dụng trong 1 ngày mà vẫn ấm. Ấm tích giữ được nhiệt độ trung bình vì được đựng trong Ủ ấm.

3. Nước pha trà

Nước pha trà cần phải sạch, trong. Nước mưa, nước từ sương sớm là tốt nhất. Ở làng quê còn hay sử dụng nước giếng từ đá ong, nhà khá giả thì sử dụng nước đọng từ lá cây sáng sớm – đây là loại nước tinh khiết, thuần túy nhất. Ở thành phố nên sử dụng nước đã qua lọc tạp chất. Quan trọng là trà dù ngon đến mấy mà sử dụng nước có mùi thì vẫn hỏng.

4. Pha trà

Pha trà không thể vội vàng, hấp tấp mà hỏng trà. Trước khi pha trà phải tráng nước sôi cho ấm trà sạch sẽ. Sau đó dùng thìa gỗ, tre cho trà vào ấm. Lại tiếp tục tráng 1 ít nước sôi vào ấm để làm sạch trà, loại bỏ bụi bẩn rồi đổ nước đi. Bây giờ ấm trà mới thực sự sẵn sàng để dùng nước uống bằng cách đổ hơn nửa ấm rồi đợi 1,2′ đổ đầy. Đợi 2′ mới thưởng thức.

Mỗi loại trà có một 1 nhiệt độ nước phù hợp. Thông thường nên để nước ở 80 độ C gọi là nước sủi tăm. Nếu nước sôi quá sẽ làm cháy trà.

5. Rót trà

Công đoạn tưởng trừng như đơn giản nhưng cũng rất cầu kỳ, khắt khe. Pha ấm trà đủ rót ra đúng số chén để tránh làm dừ trà, uống bao nhiêu lại đơm thêm nước như vậy sẽ ngon hơn. Khi rót trà, trước tiên rót mỗi chén 1 chút, uống hết lượt rồi rót gần đầy. Như vậy cả ấm trà lúc nào cũng đều nhau không chén nào bị đậm quá, không chén nào bị nhạt quá. Miệng ấm phải chạm với miệng chén, sao cho nước không bắn ra ngoài, tiếng róc rách.

 

– Bài viết có sử dụng hình ảnh tham khảo ở nhiều nơi –

 

How did first salvaging of antiques take place in Viet Nam

The following describes the Ivo Vasiljev, aCzech linguist and specialist in studies, became involved:

For many decades now, museums the world have exhibited ancient Vietnamese tery. Some shops Southeast Asia sell Vietnamese antique In 1982, a Singaporean association ceramics collectors held an exhibition at their National Museum and published a beautiful ceramics. catalogue, which included Vietnamese library of Even though this catalogue is in the 1980s, Malaysian university, until the early of Vietnamese specialists were aware only ceramics from Bat Trang Village and some other sites in Thanh Hoa Province.

One day, Mr Makoto Anabuki, then secretary at the Japanese Embassy in Ha Noi, a ceramic vase h a floral patt in displayed the Topkapi Saray Museum Turkey. The vase was engraved with
the characters for  “Dai hoa bat nien, Nam Sach Chau, Tuong nhan Bui thi hy but ” (In the eightth year of the reign of Dai Hoa, Nam Sach Prefecture, drawn by artsan Bui for entertainment)

After excavations at 1986, 1987, 1989, 1990, and 1991, archaeologists concluded that Chu Dau had been a high-quality ceramic production centre beginning in the fourteenth century and reaching its heyday in the fifteenth sixteenth centuries. In 1993, the Hai Duang Museum published a book on Chu Dau pottery.

Many researchers hold that in the seventeenth and eighteenth centuries, Dutch traders took Vietnamese ceramics to markets in Batavia (present-da Jakarta). The Dutch East Indies Company Japanese goods and sold them markets, where the company in Southeast Asian turn bought ceramics, rare timbers, rice, and sugar to be sold in Japan.

In autumn 1995, Ivo Vasiljev was working as consultant for an American company in Malaysia. In Kuala Lumpur, he came across a newspaper article about an attempt to a the Malac which had sunk on August 18, 1606 in him. A Strait. The details of salvage fascinated along private Malaysian equipment supplier the National Museum, Malaysian National University, and archaeologists of oxford University worked together in the effort. to his wife a letter describing many details wrote in a of the she edited it for publication newspaper.

Vasiljev sent the article to the Malaysian National Museum and the director of the private Malaysian company. On his next visit to Kuala Lumpur, he paid a courtesy visit to the company director and was surprised to find that the cornpany planned a effort in viet Nam to salvage a ship that had sunk 550 years before while transporting Vietnamese ceramics. A fisherman accidentally discovered the shipwreck in had unusual pieces of ceramic 1993, when he pulled in stuck in his net

The director invited Vasiljev to join the The director later, Vasiljev came to expedition. Nine months to begin work. spent with the team and peaks and writes fluent Vietnamese cultu many years ancient President Ho Chi Minh’s Prison Diary into Czech and, in 2000 published a study, Tracing the Heritage of the He was pleased to work on a team searching for a Vietnamese ceramics.

For three years, beginning in 1997, the salvage team’s ship anchored north of Cham lsland. It faced many difficulties. A strong storm damaged the vessel in 1998; the team retrieved only 922 objects from the sea that year. Workers continued the salvage in late April 1999 with greater success.

Professional divers with international licenses searched, using a spherical metal with air robe linked to a closed chamber at 70 equivalent to the water pressure metres. They followed proper archaeological methods for accessing objects (location identification, and exact measurement and then lifted them through the rapid currents. An underwater camera helped staff aboard the ship direct and monitor the divers’ movements. Staff another five to six months removing then spent classifying mud from the 270,000 objects and them into categories.

Vietnamese archaeologists, some as young as twenty-seven and twenty-eight, processed the ceramic First they soaked the reduce sea and then in water to the water prevent the designs gradually and the the glazes to 90% of the cultural information archaeologists seek.

 

How did ceramics making begin and develop in vietnam

Artists who produced Vietnamese ceramics in ancient times wew liberal in their process and did not rely on rigid rules of symmetry and decoration. In those days, Vietnamese potters didn’t make special wares for the royal families; the same village kilns served both royalty and common people.

Vietnamese may have first discovered the secrets of glazing nearly 2,000 years ago, when they routinely applied an ivory-coloured glaze, not the light brown one used on ancient Chinese ceramics. The History Museum in Ha Noi has two typical artifacts: a water jar shaped like the head of an elephant and a terracotta tray decorated with three fish as well as the circular motifs also found on bronze items from the Dong Son Period first millennium B.C.)

The recovery of national independence in the late tenth century helped pottery develop. became more varied and glazes, more brilliant. Circular, stylised lotus motifs that were inspired by the expanding Buddhist faith appeared on bowls plates, vessels, and trays.

Vietnamese potters used celadon-green glazes Scholars had assumed these during this period. as jade-green glazes were the same discoveries celadon, but new archaeological from made in Van Don, a busy commercial port the eleventh to the fifteenth century, have proven this false.

Archeologists discovered tenth-century the bricks decorated with leaves and flowers near the old royal capital of Hoa Luand in Thien Truong, and native district of the Tran Dynasty (thirteenth and fourteenth centuries). Labourers building various monuments used these and other ceramic motifs.

Ceramic wares coated with a white glaze over decorative blue motifs began to appear in the fifteenth century. Potters produced articles in particular bowls and plates, in several locations; the most famous are Th5Ha (now in Bic Phuc Province). and Huang Canh (now in Vinh Giang Province).

Vietnamese traders exported ceramics to Japan, where historical records indicate that seventeenth-century Japanese artisans often used them as models and borrowed the Vietnamese techniques for Kotchi pottery. Kotchi is the Japanese transcription of “Giao Chi a former Chinese name for Viet Nam.

The lack of special kilns just for Viet Nam’s royal families never hindered ancient Vietnamese ceramics. Then, beginning with the reign of King Long potters built kilns on Long Hill Hue to tiles for the royal palaces. These kilns employed the same reduction firing used for the popular ceramic wares from Binh Dinh Province. Even though the Long Tho Hill kilns closed after artisans completed the royal palaces, craftsmen continued using this firing method until the beginning of the twentieth century.

During the nineteenth century. King Thieu Tri and King Tu Duc ordered blue floral porcelain from Jingdezhen, China for their courts. These wares had “noi phu” (“for use in the King’s Court”) and/ or “Thieu Tri” or “Tv Euc” written on them Later, just before 1945 Chinese traders capitalised on the taste for royal wares and flooded market with imitations, complete with the inscription “noi phu”